Axit Alpha – Hydroxy

Cơ chế hoạt động chính xác của AHA, chẳng hạn như glycolic, lactic và axit malic, chưa được biết đến. Tuy nhiên, tác động ngoài da được cho là tác động chủ yếu ở lớp biểu bì. AHA, còn được gọi là axit trái cây, hút nước yếu ( tức là chúng hút nước vào các tế bào da khô ). AHA rất đặc trưng vì có một chức rượu( hydroxyl ) ở vị trí alpha so với nguyên tử cacbon mang chức cacboxyl. Da cảm thấy thô ráp khi có sự tích tụ của các tế bào sừng dính một phần trên bề mặt da. Tẩy da chết bằng các chất bôi ngoài da, chẳng hạn như AHA, có thể phục hồi kết cấu mịn hơn. Nồng độ của tác nhân AHA là rất quan trọng. Ở nồng độ thấp ( 2 % đến 8 % ), chỉ một vài lớp sừng được loại bỏ và vẫn còn đủ tế bào để giữ chức năng vách ngăn của da còn nguyên vẹn. Ngược lại, nồng độ cao hơn 12 % có thể dẫn đến mất toàn bộ lớp sừng ( ảnh hưởng đến 10 đến 20 lớp tế bào) và gây kích ứng da. Điều này đặc biệt đúng nếu AHA được sử dụng nhiều hơn một lần mỗi ngày.

Mặc dù cơ chế hoạt động chính xác của AHA vẫn chưa được biết, nhưng có giả thiết cho rằng AHA hoạt động như tác nhân tạo canxi và làm giảm nồng độ biểu bì ion canxi. Loại bỏ các ion canxi từ sự kết dính gian bào của tế bào sừng làm gián đoạn chức năng của chúng và dẫn đến bong vảy. Hơn nữa, những mức độ ion giảm này thúc đẩy sự phát triển của tế bào và làm chậm sự phân hóa, mang lại cho làn da vẻ ngoài trẻ trung hơn. Tác dụng do AHA gây ra là tạm thời, tuy nhiên, vì chúng không điều chỉnh quá trình sừng hóa, chúng cũng không tạo ra keratin mềm hơn như tretinoin. Do đó, khi ngừng sử dụng AHA, tình trạng đang được điều trị thường quay trở lại trong vòng 2 hoặc 3 tuần.

Trong quá trình nỗ lực tạo ra một sản phẩm mạnh hơn, một xu hướng gần đây là tăng nồng đô của AHA, do đó làm giảm độ pH tổng thể của chúng. Điều này, tuy nhiên, không hoàn toàn có lợi. Sử dụng axit glycolic làm ví dụ, khi pH tăng lên, do đó hiệu quả cũng tăng lên( ở mức độ nhẹ ), nhưng kích ứng và các tác dụng phụ cũng tăng lên. Chỉ riêng tính axit không dự đoán được hiệu quả của acantholytic. Các hiệu ứng liên kết hydro, tĩnh điện, cảm ứng và steric cũng có liên quan. Sự thay đổi độ pH trên bề mặt da do AHA gây ra cần phải lưu ý kỹ vì những thay đổi này có thể tồn tại trong tối đa 4 giờ sau khi sử dụng.

Độ pH có tính axit của axit glycolic được đệm khoảng 2,8 đến 3,5 cho Ứng dụng trên mặt. Nhiều sản phẩm mỹ phẩm trên thị trường tuyên bố là “ trung hòa ” hoặc “ chất đệm ”, do đó ít gây kích ứng hơn. Cần lưu ý, tuy nhiên, các sản phẩm trung hòa đó sẽ ít hiệu quả trên da. Axit glycolic và lactic là AHA được sử dụng phổ biến nhất trong các sản phẩm chăm sóc da. Khi kích thước phân tử của AHA khác nhau, hiệu quả tương ứng của chúng cũng khác nhau. Axit glycolic là nhỏ nhất và do đó có hoạt tính thâm nhập tốt nhất.

Axit glycolic có tính hút nước và liên kết với nước trong da. Nó cũng làm giảm liên kết giữa các tế bào sừng. Ở nồng độ cao hơn, axit glycolic tách biểu bì từ lớp hạ bì( epidermolysis ) thông qua ly giải của hemidesmosomes. Nó có thể được sử dụng một mình hoặc kết hợp với các hóa chất khác trong bề mặt da.

Nồng độ nhẹ đến trung bình ( < 30 % ) của axit glycolic được sử dụng cho Lột da “ lunch – time ”. Chúng loại bỏ các tế bào giác mạc biểu bì và tạo ra sự tróc da ở các tầng dưới của lớp sừng. Bởi vì chúng không có tác dụng trên da, Lột da “ lunch – time ” không phải là lột da thật. Thật vậy, chúng có thể mang lại làn da tạm thời mịn màng hơn và cải thiện mụn trứng cá, nhưng chúng không có có tác dụng làm mờ nếp nhăn, sẹo hoặc làm săn da.

Trích “ Nghệ thuật phục hồi và trẻ hóa làn da” – Zein E. Obagi, M.D.

Alpha – hydroxy acid ( AHA ) tên gọi chung của một nhóm các acid tự nhiên, hay được gọi là “ acid trái cây ”. AHA được sử dụng trong các sản phẩm giữ ẩm, làm mềm và tẩy tế bào chết cho da, thay da hóa học. AHA làm nới lỏng liên kết mặt ngoài của da, làm lớp này bong ra và thay mới. AHA cũng được dùng để điều trị các tổn thương do ánh nắng mặt trời, do tăng sắc tố hay bệnh eczema, bệnh vảy cá. Lợi ích mà AHA mang lại phụ thuộc vào dạng và nồng độ AHA cũng như pH của công thức. Các sản phẩm AHA trên thị trường thường bán cho người tiêu dùng có nồng độ 10 % hoặc thấp hơn, bán cho các chuyên viên da liễu là 20 – 30 %, còn được bác sĩ sử dụng có thể lên đến khoảng 50 – 70 %. Tác dụng của AHA bao gồm : giảm đường rãnh, nếp nhăn, làm mờ các vết tăng sắc tố, giúp da mềm mịn và dịu, phục hồi lớp sừng bằng cách loại bỏ các tế bào chết, tạo cấu trúc da bền vững, hoạt hóa acid hyaluronic, tăng khả năng giữ ẩm và dưỡng ẩm cho da… Theo thống kê có 6 loại acid trái cây có trong thành phần của nhiều loại rau củ quả như acid glycolic ( được tìm thấy trong mía ), acid lactic ( được tìm thấy trong sữa và nước ép cà chua ), acid malic ( có trong táo ), acid tartric ( trong nho và rượu ) và acid citric ( có trong chanh, dứa, cam và nhiều loại trái cây khác ). Acid pyruvic cũng là một acid thuộc nhóm AHA. FDA có một mối quan tâm đặc biệt về AHA bởi vì khác với mỹ phẩm truyền thống, AHA có khả năng thâm nhập vào hàng rào da. Khi xem xét các dữ liệu hạn chế về AHA, FDA đã kết luận trong một báo cáo năm 1996 rằng một số công thức nhất định của sản phẩm AHA có thể ảnh hưởng đến da theo cách tương tự như thay da hóa học tức là tăng tỷ lệ thay mới của tế bào và giảm độ dày của da. Mức độ tác động phụ thuộc vào pH của sản phẩm ( đo lường độ acid ), nồng độ AHA cũng như cách sử dụng sản phẩm ( cả tần suất sử dụng và vị trí trên da ). Độ nhạy với ánh sáng mặt trời cũng là mối quan tâm của FDA theo báo cáo bổ sung năm 1996 về độ an toàn của nhóm hợp chất này. Một số người đã báo cáo phản ứng bất lợi dẫn đến tăng độ nhạy cảm với ánh nắng mặt trời. Một nghiên cứu khác đã xem xét tác động của acid glycolic làm tăng mức độ cháy nắng da, cho thấy những người sử dụng AHA khi tiếp xúc với tia cực tím có tổn thương tế bào gấp đôi so với những người được điều trị bằng sản phẩm không phải AHA. Năm 1997, CIR kết luận rằng acid glycolic, acid lactic của AHA cùng các hợp chất hóa học liên quan của chúng an toàn khi sử dụng trong các sản phẩm dành cho người tiêu dùng với nồng độ 10 % hoặc thấp hơn. Các công thức của acid glycolic hay acid lactic ở nồng độ 30 % hoặc thấp hơn cũng như pH là 3,0 hoặc cao hơn chỉ để sử dụng “ ngắn hạn ” một lần, sau đó rửa sạch và chống nắng cẩn thẩn. Mỗi nhà sản xuất sản phẩm AHA nên tiến hành thử nghiệm thích hợp trên sản phẩm để đo lượng sản phẩm có làm tăng độ nhạy của người dùng với bức xạ tia cực tím hay không, và nếu có, cần thêm biện pháp chống nắng vào sản phẩm, đồng thời cảnh báo người tiêu dùng các bước bổ sung để tự bảo vệ mình mọi lúc.

Trích “Mỹ phẩm toàn thư – Dược Sĩ Tiến